Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

 

Tri thức bản địa của đồng bào Cơtu

Người đăng: Ngày đăng: 15:29 | 30/03 Lượt xem: 879

          Trong hoạt động nông nghiệp, người Cơtu dựa theo chu kỳ của mặt trăng chia các tháng trong năm để ấn định các công việc nương rẫy, xem như là nông lịch. Tháng nào thì phát rẫy, tháng nào thì đốt rẫy và dọn tỉa, tháng nào thì làm cỏ, thu hoạch... Nông lịch còn quy định công việc lấy mật ong, bẫy thú rừng, bẫy chim... được thực hiện vào tháng nào. Người Cơtu có câu tục ngữ  “Khi mưa đi bẻ măng, khi nắng ngồi sững ở nhà” để nói việc thời vụ cần làm. Một chu kỳ mùa rẫy được tiến hành với công việc đầu tiên là chọn đất, được tiến hành từ tháng 11 đến tháng giêng âm lịch. Việc chọn đất, chọn rẫy cho vụ mùa đến cần phải thực hiện ngay sau khi vừa thu hoạch vụ lúa trong năm để có thời gian chuẩn bị cho vụ mùa đến. Do đất canh tác nương rẫy luân canh, đồng bào chọn một đám rẫy mà cây rừng tái sinh đã đủ khả năng để phát, đốt cho độ mùn nhiều, đưa vào canh tác. Rẫy luân canh được quay trở lại canh tác sau 4-5 năm. Đối với những đất rẫy mới, tâm lý của đồng bào thích những khu đất rẫy nằm ở rừng già, nơi đất tơi xốp, tuy phải hạ cây rừng lớn nhưng đất ở đó tốt vì chưa bị khai khẩn nhiều lần, có tầng dày của cây lá mục nát lớn nên độ phì cao.

          Kinh nghiệm của đồng bào chọn đất làm rẫy cần tránh những vùng núi có độ dốc lớn ven sông suối, nền đất quá mềm, không có chân đất và vùng đất có nhiều  ổ  mối dễ bị sạt lở khi có mưa lớn. Sau khi chọn đất, vào tháng hai âm lịch sẽ tiến hành phát rẫy vì lúc ấy sẽ có một khoảng thời gian đủ cho cây rừng đón nắng để khi đốt cây rừng cháy cho nhiều  tro than. Sau những ngày đốt rẫy, thú rừng thường về để ăn tro nên thời gian này đồng bào đặt bẫy hoặc đi săn. Công việc tỉa hạt được tiến hành sau khi đốt rẫy thông thường vào tháng 4, tháng 5, khi các cơn mưa dông chiều đã dứt. Đồng bào có kinh nghiệm nhìn trăng, mây và số lượng các ngày mưa dông đã qua để tính toán thời gian sẽ tiến hành tỉa lúa nhưng kinh nghiệm này chỉ có  ở  những người già và chủ làng. Trước đây, khi đến giai đoạn tỉa lúa, chủ làng tỉa “làm phép” 6 hạt thóc đầu tiên, sau đó các gia đình thành viên trong làng mới được tỉa lúa của gia đình mình. Trong phạm vi gia đình thì người quản lý, trông giữ thóc giống thường người đàn bà lớn tuổi nhất sẽ là người tỉa những hạt lúa trước tiên. Do đặc điểm đất đai vùng miền núi dốc, độ phì dễ bị trôi rửa, thông thường đối với rừng già đồng bào làm hai vụ lúa trên một diện tích  đất  rẫy sau đó sẽ tiến hành làm một vụ mùa sắn hoặc bắp và sau đó sẽ để đất rẫy hoang hóa, phục hồi. Đối với đất rẫy luân canh thì chỉ làm một vụ lúa, không tiến hành sản xuất vụ thứ hai.

          Ngoài trồng trọt, người Cơtu còn chăn nuôi trâu, heo, gà, vịt... Chăn nuôi các loại vật nuôi mới thì đồng bào không có nhiều kinh nghiệm như các vật nuôi truyền thống, nhưng họ có giải pháp để vật nuôi mới sớm thích nghi. Kinh nghiệm và thực tiễn cho thấy đồng bào dễ thành công trong chăn nuôi bò, dê vì có nguồn thức ăn tại chỗ là lá cây tự nhiên và rất phù hợp với phương thức thả rông. Đặc biệt đối với con trâu do khó thuần dưỡng, mua từ vùng khác về (đã cày cấy hoặc trâu rừng) nên đồng bào chọn một khu rừng nhất định có địa thế cô lập như thể là một ốc đảo để nuôi  thả. Chăn nuôi thả rông có tác hại đối với trồng trọt, lập vườn nhà, vệ sinh môi trường và dễ bị thú dữ tấn công, ăn thịt… nhưng trong điều kiện đồng bào không lập vườn nhà, không có thời gian để chăm sóc hàng ngày thì việc thả rông cũng có tính hợp lý, con vật phải tự đi tìm thức ăn, đồng bào chỉ cho súc vật ăn một lần vào buổi chiều với các loại thức ăn cố định. Thói quen cho ăn này chính là kinh nghiệm để giữ đàn súc vật.

          Trong săn bắn, kinh nghiệm của đồng bào là quan sát mặt lá cây rừng trên mặt đất và trên đất để xác định dấu vết chân của con thú thường di chuyển. Từ đó, tìm ra nơi ẩn nấp hay chỗ ở của chúng, như câu tục ngữ Cơtu cho biết “Con chim tìm mồi nơi eo núi”, muốn bắt chim thì tìm đến các eo núi. Tâm lý và cũng là ý thức của đồng bào khi săn bắt các loại thú rừng không tận diệt loại thú con một cách toàn bộ vì đồng bào cho rằng để  nó  sinh sôi bầy đàn để còn săn bắt về sau.  Ở  người Cơtu, sản phẩm từ hái lượm có một số loại trở thành nguồn lợi để trao đổi với nơi khác như mật ong, hạt ươi, măng, tre, giang các loại... Việc thu hái các loại cây lá trái tự nhiên trong rừng được đồng bào phân định rõ loại độc hại, không độc hại nhờ vào kinh nghiệm đã đúc kết nhiều đời và quá trình theo dõi các loại thức ăn của thú rừng. Trong nông lịch và chu kỳ thời gian trong một năm, người Cơtu đã ấn định việc thu hái các sản phẩm tự nhiên ở rừng như tháng ba, tháng tư khi mùa hoa các loại cây rừng đã tàn thì đi lấy mật, nhìn hướng bay của con ong bay lên hay bay xuống để xác định vị trí của tổ ong nhìn màu sắc đỏ của trái, cánh ươi để biết khi nào chín để đi lượm hạt ươi.

          Trở lại với câu chuyện đốt nương làm rẫy. Thời gian đốt rẫy thường từ tháng 2-3. Người Cơtu có câu tục ngữ “Hơrê cah roóh, chrncoh liêm” (rẫy không cháy, trồng trọt không tốt) để khái quát ý nghĩa quan trọng của công việc đốt rẫy. Tùy thuộc rẫy là đất rừng già hay rừng non và địa thế đất rẫy có độ dốc nhiều hay ít để có cách thức đốt rẫy khác nhau. Nếu  ở  đất dốc thì phát cây rừng ngã đổ dàn đều để khi đốt tro, than phủ đều trên bề mặt đất, khi tỉa lúa không mất công dàn trải lớp tro than. Nhưng điều đặc biệt nhất nằm ở chỗ: Trước khi đốt rẫy bao giờ cũng phát bao quanh chu vi đám rẫy một băng đất trống và dọn sạch cây rừng để khi đốt lửa không cháy lan ra cây cối bên ngoài đám rẫy, gây cháy rừng. Đối với rẫy đất dốc, đồng bào đốt từ phía dưới thấp lên cao.

          Thiết nghĩ, trong điều kiện một bộ phận lớn người Cơtu còn phải hoàn toàn phụ thuộc hoặc phụ thuộc một phần vào nền sản xuất truyền thống lấy kinh tế nương rẫy làm sản xuất chính, thì việc vẫn còn áp dụng các giải pháp để thích ứng với loại hình sản xuất đó vẫn tồn tại. Chính vì vậy, các cơ quan hữu quan không xem tri thức bản địa cùng với giải pháp tương ứng là các biểu hiện lạc hậu. Hơn nữa, cần có một lộ trình đồng bộ để chuyển giao đến người dân từng bước đối với các kiến thức của các loại hình sản xuất mới cho đồng bào Cơtu để chuyển dịch, thay đổi nền sản xuất truyền thống sang nền sản xuất mới theo hướng kinh tế hàng hóa. Cần có một chương trình nghiên cứu thống kê các tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Cơtu nói riêng hoặc của cộng đồng các dân tộc thiểu số Quảng Nam nói chung để có thể lưu giữ, xem như là một giá trị văn hóa phi vật thể của các dân tộc.

Tác giả: Bhố

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn: