Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

 

Nét đặc sắc trong y phục người C’tu

Người đăng: Quản Trị Ngày đăng: 9:29 | 27/04 Lượt xem: 2202

      Nét đặc sắc trong y phục người C’tu 

      Dân tộc C’tu cũng như bao dân tộc anh em ở phía tây dãy Trường Sơn huyền thoại. Tại Việt Nam theo điều tra dân số năm 1999, người C’tu ở nước ta có trên 50.458 người. Tại Lào, theo Ethnologue thì năm 1998 dân tộc C’tu có 14.700 người. Cư trú chủ yếu ở các huyện miền núi Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn của tỉnh Quảng Nam, huyện Nam Đồng của tỉnh Thưa thiên-Huế và ở hai huyện K’Lừm, Đắc Chưng tỉnh Sêkông nước bạn Lào, tuy dân số không nhiều nhưng dân tộc  C’tu ở có một nền văn hóa thống nhất đa dạng và phong phú, mang âm hưởng Văn hóa cộng đồng các dân tộc ở vùng Trường Sơn – Tây nguyên. Tuy nhiên Văn hóa C’tu vẫn có những đặc trưng, riêng biệt, độc đáo, cổ kính và đặc sắc còn được cộng đồng người C’tu bảo lưu nguyên vẹn. Trong đó tiêu biểu là Làng văn hóa thôn, bản   (veel kơr’noo/ bhưal) hình bầu dục, các làn điệu dân ca, dân vũ, các lễ hội truyền thống…Trong đó có các nghề đan, dệt thổ cẩm với đủ loại mùa sắc, kích cỡ, hoa văn đẹp mắt phản ảnh rất sinh động về đời sống, sinh hoạt, văn hóa tâm linh của cư dân nơi đây.

       Dân tộc C’tu xưa, nay sống hầu hết bằng nghề làm nương rẫy, có trồng trọt và chăn nuôi nhỏ lẻ nhưng rất ít chủ yếu là tự cung tự cấp tại chỗ, sống trên núi cao, ở nhà sàn gỗ, có sàn cất cao gần một mét so với mặt đất trong thung lũng gần ven sông suối,  xuất phát từ đặc điểm trên nên việc may dệt, chất liệu, kết tạo y phục của cư dân nơi đây cũng mang những nét riêng, phù hợp với điều kiện thời tiết, địa hình và công việc sinh hoạt hàng ngày.

    Theo già làng C’lâu Nâm ở thôn Pơr’ning, xã Lăng, huyện Tây Giang cho biết: “Người C’tu ngày xưa khi chưa có vải, len dạ, người C’tu thường lấy vỏ cây tađúch đập bỏ nhựa,  phơi khô làm thành trang phục để che da che thịt. Đến những năm 1945 khi phát hiện cây bông và làm sợi len được người phụ nữ C’tu đã tạo nên những khung cửi, màu len và hạt cườm dệt nên những trang phục truyền thống như h’giăl /còn có tên gọi là g’hul, (khố đóng hình chữ Y, y phục truyền thống của đàn ông), adoód, ưng đoóh, c’đeý, chưr đhoong… (vấy ngắn, dài, áo chui xò… đây là những y phục truyền thống của phái nữ)”. Điểm đặc biệt mang đậm nét đặc trưng trong dệt thổ cẩm của người phụ nữ C’tu đó  là cách chọn len, làm khung dệt đều kỹ nghệ thủ công, dùng thân ống tre, nứa, cách lên khung cửi, rồi đến cách ngồi dệt chân duỗi thẳng đạp và giữ khung dệt, điểm khác biệt nữa là người C’tu thường sử dựng gam màu đen, đỏ, ít màu vàng, nhất là trong cách trang trí hoa văn rất tỉ mỉ, cầu kỳ dệt lên từng hạt chì, hạt cườm trắng, thường là các hình tam giác, vuông tròn… tượng trưng cho núi non, sông suối, mặt trăng, mặt trời, hoa cỏ, các hình ảnh về điệu múa tân tung, da dă,...và các hoa tiết nhiều đường liền kề song đối nhau viền hai bên. Đây là những nét đặc trưng riêng, độc đáo, đặc sắc dễ thấy nhất trong y phục thổ cẩm của người C’tu mà dân tộc khác ít có.

    Chị Bhling Thự Tư người đã có kinh nghiệm nhiều năm trong nghề dệt thổ cẩm ở làng Pơr’ning cho biết: “Với cách dệt thủ công của người dân mình, để dệt được một tấm adoód, ưng đoód, hay tấm h’giăl truyền thống phải mất  gần hai tháng, đến ba tháng, nó đòi hỏi tính kiên nhẫn, cần mẫn của người thợ dệt, khó nhất là luồn từng hạt cườm và xếp thành hình hoa văn”.     Ngoài dệt thổ cẩm nói trên, phụ nữ C’tu còn rất khóe léo trong đan, dệt c’têêng dùng dể  buộc chưr đhoong khi múa hội, nhún nhảy khỏi bị tuột, người C’tu còn biết làm và sáng tạo ra: h’lắt, a’rác, ma não, kênh, pa’nơng..  

  đây là những đồ trăng sức nhằm làm tô đẹp thêm thiếu nữ C’tu trong y phụ thổ cẩm lộng lẫy, sặc sở truyền thống. Qua đây có thể cho ta thấy và hiểu hơn về con người chị em phụ nữ C’tu thợ dệt thổ cẩm nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung rất sắc sảo, khéo lóe, trong từng đường chỉ, hoa văn trên tấm vải, tấm thổ cẩm kỳ công. Một lần nữa sản phẩm văn kết tinh văn hóa dân tộc từ bao đời của người C’tu lại thể hiện rõ hơn về lòng kiên nhẫn, trung hậu, đảm đang, thủy chung và rất bình dị của người phụ nữ C’tu.

                  “Bên bếp hồng mập mờ khuya sớm 

                  Pân’đil(1) C’tu ngồi cần mẫn bên khung dệt  

                  Nhặt từng yêu thương miệt mài dệt nên  tấm h’giăl, ưng đoóh(2) 

                  Gửi tặng chồng con với ngàn ước mơ… 

                  Bên sàn Gươl(3) hồng hồng đôi má, 

                  Giọt mồ hôi lấm tấm những hoa văn   

                  Em vẫn tháng năm thủy chung bên khung cửi 

                  Lưng mỏi công dệt nên những tấm chưr đhoong(4)  

                  Rực rỡ gam màu long lanh đôi mắt   

                 Trắng trong “hạt cườm” gởi trọn tình yêu thương”....  

     Trang phục thổ cẩm của người C’tu xưa nay chỉ mặt phổ biến trước năm 1945, sau cách mạng Tháng Tám thành công, trang phục C’tu rất  ít được mặc, đa phần người C’tu ưa mặc quần áo tay phương. Trang phục dân tộc chỉ lâu lâu mới được mặc trong ngày lễ hội, cưới hỏi nhưng rất hạn chế. Đây cũng là những khó khăn trong việc gìn giữ, quảng bá, phát huy, bảo tồn làng nghề đệt thổ cẩm truyền thống dân tộc, bởi trong xu thế phát triển bùng nổ về mọi mặt như hiện nay nhất là về văn hóa đã tác động rất lớn tới nhận thức lệch lạc về thời trang, y phục, hầu như các bạn trẻ  người dân tộc đều ưa chuộng phong cách tay tàu nên khi khoác trên mình bộ trang phục dân tộc các bạn có vẻ ngại, thờ ơ và không quý trọng văn hóa, giá trị truyền thống của dân tộc, cội nguồn mình. 

     Y phục truyền của dân tộc, ngoài công dụng may mặc hàng ngày  hay lễ hội, thờ cúng, dâng hiến, còn giữ nét văn hóa rất lớn, đó là điểm dễ nhận thấy, để phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Đó là là cái riêng, đặc trưng của văn hóa dân tộc.  Trên nền tảng y phục dân tộc C’tu hiện nay xuất hiện những bộ trăng phục được cải tiến phù hợp với điều kiện và công sở, nhất là trong các cuộc thi thời trang dân tộc nhưng vẫn giữ được tính bản sắc dân tộc. Đây có thể nói là bước đột phá cho sự phát triển y phục thổ cẩm dân tộc một cách hiệu quả vừa đổi mới vừa giữ được sắc màu y phục dân tộc. Vì nhờ những cải tiến phù hợp và độc đáo mọi người con dân tộc C’tu và du khách có thể mang chính y phục, chất vải, tấm thổ cẩm rất riêng của chính dân tộc C’tu mình ít nơi có được. 

    Những năm gần đây được sự đầu tư tài trợ của Fidr, nhà doanh nghiệp phi chính phủ nước ngoài cho làng dệp thổ cẩm C’tu  ở thôn Công Dôn, huyện Nam Giang ngày càng được khôi phục và có nhiều triển vọng trong tương lai. Ở phố cổ Hội An nơi có lượt khách nước ngoài tham quan cao nhất nước, ở đây trên các vỉa hè, quán tạp hóa đã xuất hiện các mặt hàng như áo quần, cặp, váy, mũ được cải tiến dựa trên nền vải, hoa văn tấm thổ cẩm “gam màu dân tộc C’tu” thu hút khách trong và nước ngoài mua và tiêu thụ.

      Đây là tin vui cho nghề dệt thổ cẩm người C’tu, nhưng cũng chứa đầy những thách thức, mối lo cho nghề dệt thổ cẩm của người C’tu trên toàn tỉnh vì chưa được nhân rộng, và chưa có nhà tổ chức người Việt Nam đứng ra làm chủ đầu tư, kinh doanh thành những dòng sản phẩm may mặc có sức cạnh tranh. Nhất là chưa có một tổ chức đủ lớn, đủ sức mạnh tạo điều kiện làm bàn đạp, điểm tựa vững chắc cho nghề dệt C’tu nói riêng, và các làng nghề của các dân tộc thiểu số cả nước nói chung phát triển đi lên thịnh vượng.

     Sự mai mọt về văn hóa, trong đó có các làng nghề dệt thổ cẩm của  người C’tu nói riêng, cả nước nói chung là những khúc mắc, mất mát về văn hóa mà không ít dân tộc thiểu số ở nước ta không vướng phải. Nhưng cũng có những dân tộc như H’mông  (Mèo)…và một vài dân tộc khác ở phía Bắc, ở dù dân số không đông nhưng họ luôn giữ được sắc phục truyền thống của dân tộc mình trong cuộc sống sinh hoạt, hàng ngày, từ cụ già, trai gái đến em thơ đâu đâu cũng đậm màu sắc phục dân tộc.

    Thật đáng trân trọng và tự hào về họ, “ Về những con người biết  gìn giữ và nuôi dưỡng Văn hóa của dân tộc mình, biết lấy Văn hóa nuôi sống Văn hóa và nâng cao đời sống vật chất tinh thần từ Văn hóa”.

     Trong đó biết  khai thác hết tiềm năng lợi thế văn hóa, sinh thái để thu hút phát triển du lịch. Biết bao nhiêu lượt khác xa gần, trong và ngoài nước không tiếc bỏ gần triệu đồng đến Sapa chỉ để ngắm nhìn y phục dân tộc người H’mông, hay chỉ đến để chụp hình và tận hưởng khung cảnh thiên nhiên.  Đó là bài học thực thế đáng phải học hỏi và nhân rộng cho việc giữ gìn, quảng bá sắc phục, văn hóa dân tộc mà các dân tộc anh em cũng có thể làm được. Với những điều kiện tự nhiên và khí hậu trong lành ở Tây Giang hiện giờ không khác gì Sapa, Đà Lạt.., Tây Giang con người, văn hóa, thiên nhiên nơi đây đử sức làm được như dân tộc H’mông làm. Gìn giữ và phát  huy bản sắc văn hóa của dân tộc là trách nhiệm chung của cộng đồng, dân tộc, nhất là cơ quan có thẩm quyền, các bộ nghành liên quan. 

     Vì thề ý thức về tự tôn văn hóa, tự tôn dân tộc lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết. “ Trong mọi thời đại văn hóa dân tộc vẫn luôn là dấu son vàng, đánh dấu sự phát triển thịnh vượng về nền văn minh tiến bộ của con người, của dân tộc. Một dân tộc không có những truyền thống văn hóa là một dân tộc không có hơi thở sống. Là dân tộc đang tàn lụy suy vong dần”. 

      Bởi lẻ thế mỗi cộng đồng trong 54 dân tộc Việt Nam cần có tình yêu, trách nhiệm về việc gìn giữ, phát huy, bảo tồn những di sản, truyền thống  của dân tộc, đồng thời biết chọn lọc, tiếp nhận phát triển những tinh hoa văn hóa tiến bộ hay, đẹp của nhân loại mà không hòa lẫn, phai tàn bản sắc riêng của dân tộc, đất nước mình. Từ đó góp phần làm giàu và phong phú thêm nền văn hóa truyền thống nước nhà. 

     Vì thế, thiết nghĩ Nhà nước, cơ quan chức năng trong thời gian tới trong chính sách phát triển chung về văn hóa cần có những định hướng, việc làm cụ thể, kịp thời theo từng vùng dân tộc về đầu tư phát triển làng nghề truyền thống, trong đó có nghề dệt thổ cẩm của người C’tu.      Trong tiến trình thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước, nhất là những vùng biên giới khó khăn, vùng dân tộc thiểu số cần chú trọng đầu tư  khôi phục, phát triển Văn hóa, các làng nghề dệt, làng nghề truyền thống, du lịch văn hóa dân tộc, du lịch sinh thái.  

     Từ đó tạo chuyển biến mạnh mẻ trong phát triển sản phẩm hàng hóa truyền thống của dân tộc được thông lưa giữa hai chiều giữa cung và cầu, giữ mua và bán, qua đó nhằm giới thiệu, quảng bá và bán ra thị trường trong nước và nước ngoài ngày càng sâu rộng hơn. Từ đó góp phần rất lớn trong việc xóa bỏ hủ tục lạc hậu, nâng cao dân trí, đời sống bà con vùng dân tộc, từ việc làm đó cho người dân thấy được vai trò và sự cấp thiết của văn hóa mà ở đây chính đồng bào dân tộc cũng vừa là chủ nhân, vừa là nhân công, vừa là thợ nghề và cũng vừa là người thừa hưởng, bảo vệ, phát huy tài sản tay nghề truyền thống quý báo của dân tộc. Hơn nữa thông qua làng nghề truyền thống có thể giải quyết được công ăn việc làm tại chỗ cho bà con dân tộc thiểu số, đồng thời gìn giữ và quảng bá bản sắc dân tộc một cách khoa học, hiệu quả và bền vững trong thời đại hội nhập và phát triển hiện nay. 

                                                                                            Ảnh và bài Pơloong Plênh   

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn: